Xem nhiều trong tháng

Thăm dò ý kiến

Bạn có hay bị căng thẳng

Tôi rất thoải mái

Ít khi căng thẳng

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Liên kết website

http://ytethanhhoa.gov.vn/
tiếng chuông
tạp chí y dược
y học thực hành
truyền hình sức khoẻ
truyền thông sức khoẻ
Cải cách thủ tục hành chính
bác sĩ nội trú
http://giadinh.net.vn/
thủ tục hành chính
http://suckhoedoisong.vn/

TÌM HIỂU MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ SEROTONINE HUYẾT TƯƠNG VỚI CÁC TRIỆU CHỨNG RỐI LOẠN TÂM THẦN Ở BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT CÓ HÀNH VI TỰ SÁT

Đăng lúc: Thứ năm - 22/03/2018 08:51 - Người đăng bài viết: anhanh
Tác giả: Bùi Quang Huy: Khoa Tâm thần – Bệnh viện Quân y 103; Trịnh Văn Anh: Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thanh Hóa
Tóm tắt
Mục tiêu: tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương với các triệu chứng loạn thần và không loạn thần ở bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát.Đối tượng:66 bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát. Phương pháp: tiến cứu, cắt ngang phân tích từng trường hợp cụ thể, định lượng serotonin huyết tương bằng phương pháp ELISA. Kết quả: Hoang tưởng bị chi phối và hoang tưởng kỳ quái, ảo thanh bình phẩm và ảo thanhra lệnh liên quan có ý nghĩa thống kê với nồng độ serotonin huyết tương (p<0,05). Còn ảo thanh xui khiến và hoang tưởng bị truy hại sự liên quan không có ý nghĩa (p>0,05).Các triệu chứng rối loạn cảm xúc, hoạt động, chú ý và trí nhớ, nhận thức đều liên quan rất chặt chẽ với nồng độ serotonin huyết tương với p<0,001.Kết luận: Các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt có hành vi tự sát đều liên quan có ý nghĩa thống kê với nồng độ serotonin huyết tương, ngoại trừ ảo thanh xui khiến và hoang tưởng bị truy hại là không có mối liên quan.
Từ khóa: Tâm thần phân liệt, hành vi tự sát, serotonin huyết tương.
INVESTIGATE ASSOCIATION BETWEEN SEROTONIN PLASMA LEVELS AND MENTAL DISORDER SYMPTOMS IN SCHIZOPHRENIC PATIENTS WITH SUICIDAL BEHAVIOUR
Summary
Objective: To explore the association between plasma serotonin levels with symptoms of psychosis and nonpsychosis in schizophrenic patients with suicidal behavior. Subjects: 66 patients with schizophrenia with suicidal behavior. Methods: prospective, cross-sectional analysis of each case.Plasma serotonin used in study was quantified by ELISA. Results: Delusion of control, bizarre delusion, commentary auditory hallucinations, imperative auditory hallucinations have significantly with plasma serotonin levels (p <0.05). Instigate auditory hallucination and harmed delusion not significant (p> 0.05). The symptoms of emotional disorders, active, attention and memory, cognition are very closely related to serotonin levels in plasma with p <0.001.
Conclusion: The symptoms of schizophrenia with suicidal behavior were associated with statistically significantly with plasma serotonin levels, except Instigate auditory hallucination and harmed delusion is no correlation .
Keywords: Schizophrenia, suicidal behavior, plasma serotonin.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tự sát là một hiện tượng phổ biến trong tâm thần phân liệt. Khoảng 40% số bệnh nhân tâm thần phân liệt sẽ có hành vi tự sát và 10% số bệnh nhân tâm thần phân liệt sẽ chết do tự sát.
Nồng độ serotonin trong dịch não tủy đã được chứng minh là có vai trò quan trọng trong hành vi tự sát ở trầm cảm, nghiện rượu, nhưng chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu mối quan hệ giữa nồng độ serotonin huyết tương với hành vi tự sát trong tâm thần phân liệt.
Chúng tôi tiến hành đề tài “Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương với các triệu chứng rối loạn tâm thần ở bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát” nhằm các mục tiêu nghiên cứu sau:
1. Tìm hiểu mối liên quan giữa các triệu chứng loạn thần với nồng độ serotonin huyết tương.
2. Mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương và các triệu chứng không loạn thần.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
          Đối tượng nghiên cứu: gồm 66 bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát, được điều trị nội trú tại bệnh viện Tâm thần tỉnh Thanh hóa và khoa Tâm thần, Bệnh viện Quân y 103 từ 1-2011 đến 2-2016.
          Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu, cắt ngang có mô tả chi tiết từng trường hợp. Bệnh nhân được lấy máu định lượng serotonin huyết tương 2 lần: lần 1 ở tuần 1 sau khi vào viện, lần 2 ở tuần 4 sau khi vào viện. Định lượng nồng độ serotonin huyết tương theo phương pháp ELISA tại khoa Miễn dịch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
          Số liệu nghiên cứu được xử lý bằng chương trình STATA 8.0.
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương với các triệu chứng loạn thần
Bảng 1. Mối liên quan giữa nồng độ serotonine huyết tương với hoang tưởng
        Chỉ số thống kê
Hoangtưởng
Lần thứ 1 Lần thứ 2 p
n  ± SD (ng/ml) n  ± SD(ng/ml)
HTbị truy hại 48 9,16 ± 4,59 0 0 p > 0,05
HT bị chi phối 16 7,80 ± 4,47 2 22,33 ± 14,62 p < 0,05
HT kỳ quái 4 13,57 ± 1,40 0 0 p < 0,05
Bảng 1 mối liên quan giữa hoang tưởng với nồng độ serotonine huyết tương sau 2 lần xét nghiệm thấy các triệu chứng hoang tưởng bị chi phối và hoang tưởng kỳ quái khi phân tích ANOVA cho kết quả giữa 2 nhóm có sự khác biệt rõ với p<0,05 (F= từ 11,70 đến 75,15 và p= từ 0,0035 đến 0,0032). Còn hoang tưởng bị truy hại sự khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05 với F= từ 3,90 đến 2,33).
Sadock B.J. (2015) khẳng định nồng độ serotonin thấp ở một số vùng não của bệnh nhân tâm thần phân liệt có các triệu chứng âm tính. Đến nay, chưa thấy tác giả nào chỉ ra mối quan hệ giữa nồng độ serotonin với hoang tưởng ở bệnh nhân tâm thần phân liệt.
Bảng2. Mối liên quan giữa nồng độ serotonine huyết tương với ảo giác
      Chỉ số thống kê
Ảo giác
Lần thứ 1 Lần thứ 2 p
n  ± SD(ng/ml) n  ± SD (ng/ml)
Ảo thanh bình phẩm 34 9,39 ± 4,62 1 74,03 p < 0,001
Ảo thanh đe dọa 14 10,85 ± 4,38 0 0 p < 0,05
Ảo thanh ra lệnh 29 8,22 ± 4,37 1 76,61 p < 0,001
Ảo thanh xui khiến 20 9,97 ± 4,63 1 13,40 p > 0,05
Bảng 2 mối liên quan giữa ảo giác với nồng độ serotonine huyết tương sau 2 lần xét nghiệm thấy các triệu chứng ảo thanh bình phẩm và ảo thanh ra lệnh khi phân tích ANOVA cho kết quả giữa 2 nhóm có sự khác biệt rõ rệt với p<0,001 (F= từ 189,95 đến 236,51 và p= 0,0000). Ảo thanh đe dọa khi phân tích ANOVA cho kết quả giữa 2 nhóm có sự khác biệt rõ với p<0,05 (F=5,73 và p=0,0324). Còn lại ảo thanh xui khiến sự khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05 với F= 0,52 và p= 0,4785).
Khi đề cập đến vai trò của các chất dẫn truyền thần kinh đối với ảo giác, các tác giả Kaplan H.I (1994), Sadock B.J. (2007) đều nhấn mạnh đến vai trò của dopamine, không một ai nhận thấy vai trò của serotonin đối với các triệu chứng loạn thần nói chung và ảo thanh nói riêng.
3.2. Mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương với các triệu chứng không loạn thần
Bảng 3. Mối liên quan giữa nồng độ serotonine huyết tương với rối loạn cảm xúc
       Chỉ số thống kê
Rối loạn
cảm xúc-lo âu
Lần thứ 1 Lần thứ 2 p
n ± SD (ng/ml) n ± SD (ng/ml)
Giảm khí sắc 22 10,78 ± 4,47 2 21,50 ± 1,83 p< 0,01
Cảm xúc không ổn định 33 41,77 ± 25,17 21 41,77 ± 25,17 p< 0,001
Cảm xúc không thích hợp 23 8,17 ± 4,39 4 22,80 ± 8,63 p< 0,001
Bi quan, chán nản 30 8,27 ± 4,39 10 46,70 ± 22,88 p< 0,001
Bảng 3 trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mối liên quan giữa rối loạn cảm xúc với nồng độ serotonine huyết tương sau 2 lần xét nghiệm thấy các triệu chứngcảm xúc không ổn định, cảm xúc không thích hợp, chán nản khi phân tích phương sai đơn yếu tố (ANOVA) cho kết quả giữa 2 nhóm có sự khác biệt rõ rệt với p <0,001 (F= từ 28,16 đến 79,84; p=0,0000), triệu chứng giảm khí sắc so sánh giữa 2 nhóm có sự khác biệt với p<0,01 (F=10,95; p=0,0032).
Theo Moussaoui D.và cộng sự (2009), nghiên cứu nồng độ serotonin trong dịch não tủy của các bệnh nhân trầm cảm tử vong do tự sát (tự sát thành công), thấy nồng độ serotonin ở các bệnh nhân này giảm rõ rệt so với người bình thường (8.55 ± 5.99 ng/ml ở bệnh nhân và 20.15 ± 13.56 ng/ml ở người bình thường). Tác giả cho rằng sự giảm nồng độ serotonin trong dịch não tủy có mối liên quan mật thiết đến các triệu chứng khí sắc giảm, bi quan, chán nản, tình cảm bị thu hẹp.
 
Bảng 4. Mối liên quan giữa nồng độ serotonine huyết tương với rối loạn hoạt động
         Chỉ số thống kê
 
Rối loạnhoạt động
Lần thứ 1 Lần thứ 2 p
n  ± SD (ng/ml) n  ± SD (ng/ml)
Lãnh đạm, thờ ơ, cách ly với xã hội 29 8,91 ± 4,80 2 32,20 ± 21,27  
P<0,001
Không quan tâm chăm sóc bản thân 23 7,79 ± 4,45 2 44,77 ± 39,71 P<0,001
Lười lao động và học tập 19 8,20 ± 4,61 3 44,81 ± 27,59 P<0,001
Giảm sút các hoạt động thường có 19 9,45 ± 4,43 7 42,84 ± 23,44 P<0,001
Ăn ít 41 9,33 ± 4,54 3 57,97 ± 22,17 P<0,001
Kết quả bảng 4, nồng độ serotonine huyết tương sau 2 lần xét nghiệm cho thấy các triệu chứng lãnh đạm, thờ ơ, cách ly với xã hội, không quan tâm chăm sóc bản thân, lười lao động và học tập, giảm sút các hoạt động thường có và ăn ít khi phân tích ANOVA cho kết quả giữa 2 nhóm có sự khác biệt rõ rệt với p<0,001 (F= từ 26,83 đến 153,69 và p= từ 0,0000).
Theo Sadock B. J. (2015), rối loạn vận động thường là hậu quả của các rối loạn khác như rối loạn cảm xúc, tư duy, tri giác… Khi các rối loạn trên liên quan chặt chẽ đến nồng độ serotonin huyết tương thì rối loạn vận động cũng có mối liên quan tương ứng.
Bảng 5. Mối liên quan giữa nồng độ serotonine huyết tương với rối loạn chú ý và trí nhớ
Chỉ số thống kê
Rối loạn
chú ý, trí nhớ
Lần thứ 1 Lần thứ 2 p
n  ± SD (ng/ml) n  ± SD (ng/ml)
Giảm tập trung chú ý khi khám bệnh 57 9,03 ± 4,60 15 43,12 ± 23,87 P<0,001
Chóng mệt mỏi, thiếu nhẫn nại 55 8,91 ± 4,47 30 36,18 ± 22,45 P<0,001
Chú ý suy yếu 20 10,25 ± 4,64 3 43,01 ± 10,41 P<0,001
Giảm trí nhớ 22 8,49 ± 4,72 4 53,96 ± 15,36 P<0,001
Bảng 5 mối liên quan giữa rối loạn chú ý và trí nhớ với nồng độ serotonine huyết tương sau 2 lần xét nghiệm thấy hầu hết các triệu chứng như giảm tập trung chú ý khi khám bệnh, chóng mệt mỏi, thiếu nhẫn nại, chú ý suy yếu và giảm trí nhớ khi phân tích ANOVA cho kết quả giữa 2 nhóm có sự khác biệt rõ rệt với p<0,001 (F= từ 76,33 đến 142,72 và p= 0,0000).
Theo Gelder M. (2011), các triệu chứng hoang tưởng, ảo giác, mệt mỏi, chán nản, mất ngủ… sẽ làm cho chú ý của bệnh nhân bị suy yếu, từ đó dẫn đến khả năng ghi nhớ kém… Khi các triệu chứng trên có sự liên quan mật thiết đến nồng độ serotonin huyết tương thì chú ý và trí nhớ vì vậy cũng có mối liên quan tương ứng.
Bảng 6. Mối liên quan giữa nồng độ serotonine huyết tương với rối loạn nhận thức
      Chỉ số thống kê
Rối loạn
      nhận thức
Lần thứ 1 Lần thứ 2 p
n  ± SD (ng/ml) n  ± SD (ng/ml)
Giảm hứng thú với công việc 22 8,79 ± 4,48 5 24,11 ± 10,58 p <0,001
Giảm hoặc mất hoạt động xã hội 10 6,91 ± 3,97 1 76,61 p <0,001
Thu hẹp hoạt động khi giao tiếp 15 11,44 ± 4,38 5 26,67 ± 12,60 p <0,001
Giảm nhận thức về mức độ bệnh 63 9,00 ± 4,55 16 33,28 ± 21,60 p <0,001
Giảm nhận thức về nhu cầu điều trị 46 8,73 ± 4,54 8 50,85 ± 26,31 p <0,001
Thụ động và thiếu sáng kiến 25 9,15 ± 4,55 10 40,46 ± 22,50 p <0,001
Bảng 6 mối liên quan giữa rối loạn nhận thức với nồng độ serotonine huyết tương sau 2 lần xét nghiệm thấy tất cả các triệu chứng khi phân tích ANOVA cho kết quả giữa 2 nhóm có sự khác biệt rõ rệt với p<0,001 (F= từ 22,20 đến 280,20 và p= 0,0000).
Theo Ngô Ngọc Tản (2005), ở bệnh nhân tâm thần phân liệt, rối loạn hoạt động nhận thức biểu hiện bằng giảm hứng thú với công việc, giảm các hoạt động xã hội, thu hẹp mức độ giao tiếp, giảm nhận thức về bệnh, thụ động và thiếu sáng kiến,… Vì thế, chúng đều chịu sự chi phối của nồng độ serotonin trong tổ chức não.
4. KẾT LUẬN
1. Mối liên quan giữa nồng serotonin huyết tương với các triệu chứng loạn thần: Hoang tưởng bị chi phối và hoang tưởng kỳ quái, ảo thanh bình phẩm, ảo thanh và ảo thanh đe dọa liên quan có ý nghĩa thống kê với nồng độ serotonin huyết tương (p<0,05). Còn ảo thanh xui khiến và hoang tưởng bị truy hại sự liên quan không có ý nghĩa (p>0,05).
2. Mối liên quan giữa nồng serotonin huyết tương với các triệu chứng không loạn thần: Các triệu chứng rối loạn cảm xúc, hoạt động, chú ý và trí nhớ, nhận thức đều liên quan rất chặt chẽ với nồng dộ serotonin huyết tương với p<0,001.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Sinh Phúc và cộng sự (2005). Bệnh học tâm thần. Nhà xuất bản quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 264-272
2. Gelder M. (2011),Oxford textboot of psychiatry”, London. pp 614-622.
3. Kaplan H.I., Sadock B.J. (1994),“Synopsis of psychiatry”, six edition, William and Wilkins, pp. 912- 917
4. Moussaoui D.; el-Kadiri M.; Agoub M.; et al. (2009), “Depression, suicidal ideation and schizophrenia”, Encephale. Nov; 25 Spec No 3: 9-11
5. Sadock B. J., Sadock V. A. (2004). Concise textbook of clinical psychiatry.Second edition.William and Wilkins. Pag 368-384.
6. Sadock B. J., Sadock V. A. (2015),Kaplan and Sadock: Synopsis of psychiatry. Tenth edition”, Williams and Wilkins, pp. 712-717.
 
Tác giả
          Bùi Quang Huy: Khoa Tâm thần – Bệnh viện Quân y 103
          Trịnh Văn Anh: Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thanh Hóa
Tác giả bài viết: Bùi Quang Huy và Trịnh Văn Anh
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 13 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
   

© Copyright Bệnh viện Tâm thần Thanh Hóa
Địa chỉ: 217 Hải Thượng Lãn Ông - TP.Thanh Hóa
Điện thoại: 037.3954430