Xem nhiều trong tháng

Thăm dò ý kiến

Bạn biết website này từ đâu ?

Người quen giới thiệu

Google

Trang web khác

Tất cả các ý kiến trên

Liên kết website

http://suckhoedoisong.vn/
tiếng chuông
y học thực hành
truyền hình sức khoẻ
thủ tục hành chính
Cải cách thủ tục hành chính
http://giadinh.net.vn/
tạp chí y dược
truyền thông sức khoẻ
bác sĩ nội trú
http://ytethanhhoa.gov.vn/

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN TÂM THẦN Ở BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT CÓ HÀNH VI TỰ SÁT VÀO ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN THANH HOÁ

Đăng lúc: Thứ tư - 21/03/2018 16:29 - Người đăng bài viết: anhanh
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN TÂM THẦN Ở BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT CÓ HÀNH VI TỰ SÁT VÀO ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN THANH HOÁ - Trịnh Văn Anh

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tự sát là cấp cứu tâm thần tối khẩn cấp và là nguyên nhân gây tử vong chủ yếu trong lâm sàng tâm thần học. Theo tổ chức Y tế Thế giới (1992), tự sát là hành vi tự kết liễu cuộc đời của mình, bằng nhiều hình thức khác nhau, trong tình trạng ý thức sáng sủa. Hiểu theo nghĩa hẹp thì tự sát là các hành động trực tiếp mang lại cái chết cho nạn nhân. Còn theo nghĩa rộng thì tự sát bao hàm tất các các hành vi mà hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp của nó dẫn đến cái chết và bệnh nhân ý thức được điều đó. Trong định nghĩa này tự sát bao hàm 3 mức độ gồm: ý định tự sát (bệnh nhân muốn chết nhưng chưa thực hiện hành vi tự sát), toan tự sát (bệnh nhân đã có một hay nhiều hành vi tự sát nhưng chưa chết) và tự sát thành công (bệnh nhân đã chết do tự sát).
Mỗi năm thế giới ghi nhận 1,5 triệu ca tự sát, tỷ lệ tự sát ở nữ cao hơn nam và tự sát là một trong ba nguyên nhân chính gây tử vong ở tuổi từ 15- 44. Tỷ lệ tự sát tại Mỹ là 12,5/100.000 dân/năm và tự sát đứng thứ 8 trong các dạng tử vong [9].
Theo Bùi Quang Huy (2005), tự sát là một cấp cứu thường gặp trong các cơ sở chuyên khoa tâm thần, tự sát thường gặp ở bệnh nhân tâm thần phân liệt chiếm đến 42,9%, tiếp theo là nghiện rượu với 25% và 17,8% là trầm cảm.
Phương thức toan sự sát phổ biến nhất là uống độc chất chiếm từ 52% đến 91% tùy theo từng tác giả: 52% (Schneider P. 1954), 66% (Maniam T. 1988), 85,4% (Suleiman MA., Nashef AA... 1986), 91% (Gasquet I., Choquet M. 1993). Ở Trung Quốc năm 2003 có 195.000 người chết chủ yếu là nữ uống thuốc trừ sâu.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (2005), khoảng 90% - 95% tự sát do các rối loạn tâm thần (trầm cảm, lạm dụng hoá chất và dược phẩm) và các bệnh mãn tính, đồng thời cũng gặp những yếu tố tâm lý khác như thất bại trong hôn nhân, làm ăn thua lỗ, bị xúc phạm danh dự [7].
Theo Alecroy và cộng sự (2006), tổng hợp nhiều công trình của các quốc gia đã xác định các nhân tố nguy cơ chính từ các bệnh lý tâm thần của toan tự sát là: trầm cảm, rối loạn lo âu, nhân cách bệnh và nghiện rượu. Tỷ lệ các rối loạn tâm thần từ 56,5 đến 64,55% tại thời điểm nằm viện do toan tự sát và 79% trong cuộc sống. Trong số này, giai đoạn trầm cảm nặng là 46,8%, rối loạn lo âu 17,7% [7].
Ở Việt Nam nói chung và Thanh Hoá nói riêng đã có một số công trình nghiên cứu về tình hình tự sát, nhưng chưa có một nghiên cứu nào về toan tự sát tại bệnh viện tâm thần, vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến toan tự sát ở bệnh nhân điều trị tại bệnh viện tâm thần Thanh Hoá năm 2013” nhằm các mục tiêu sau:
1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân toan tự sát điều trị tại bệnh viện tâm thần Thanh Hóa năm 2013.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến toan tự sát ở bệnh nhân điều trị tại bệnh viện tâm thần thanh hoá năm 2013.

 

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Gồm 57 bệnh nhân toan tự sát, gồm 22 nữ và 35 nam được điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Thanh Hoá từ tháng 10/2012 đến hết tháng 9/2013.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân điều trị nội trú đã toan tự sát do mắc bệnh tâm thần.
- Những người được xác định là toan tự sát theo các tiêu chuẩn sau:
+ Những hành vi khác nhau có tính toán để tự giết mình nhưng không dẫn đến kết quả tử vong.
+ Không có sự can thiệp của bất kỳ ai từ bên ngoài.
+ Và phải chứng minh là người đó có ý muốn kết liễu cuộc đời của mình.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Loại trừ những trường hợp vô tình uống nhầm thuốc bị ngộ độc và do tai nạn lao động.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiến cứu mô tả lâm sàng từng trường hợp kết hợp hồi cứu và có phân tích.
Bệnh án theo mẫu bệnh án chuyên khoa tâm thần của Bộ Y tế ban hành.
2.3. XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu thu thập được xử lý bằng thuật toán thống kê ứng dụng trong y học.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1- Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân toan tự sát điều trị tại bệnh viện.
3.1.1. Tình hình toan tự sát theo bệnh lý
Bảng 1: Tình hình toan tự sát theo bệnh lý.


                                                        Bệnh nhân
Bệnh
Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Tâm thần phân liệt 23 40,35
Rối loạn loạn thần cấp và nhất thời 14 24,56
Giai đoạn trầm cảm 7 12,28
Rối loạn phân liệt cảm xúc 5 8,77
Động kinh 2 3,51
Rối loạn hoang tưởng thực tổn 2 3,51
Rối loạn cảm xúc thực tổn 2 3,51
Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu 1 1,75
Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng ma tuý 1 1,75
Cộng 57 100
 Nhận xét:
Kết quả bảng 1 cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân toan tự sát gặp ở bệnh nhân tâm thần phân liệt chiếm tỷ lệ 40,35%; nhóm bệnh nhân rối loạn loạn thần cấp chiếm 24,56%; giai đoạn trầm cảm chiếm 12,28%; rối loạn phân liệt cảm xúc giai đoạn trầm cảm chiếm 8,77%; động kinh chiếm 3,51%; rối loạn cảm xúc thực tổn chiếm 3,51%; rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu chiếm tỷ lệ 1,75% và rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng ma tuý chiếm tỷ lệ 1,75%. Bệnh nhân tâm thần phân liệt toan tự sát chiếm tỷ lệ cao nhất 40,35% và thấp nhất là bệnh nhân nghiện rượu, ma tuý toan tự sát cùng chiếm tỷ lệ 1,75%.
Theo Trần Thị Hải Yến, toan tự sát ở bệnh nhân tâm thần phân liệt chiếm 57,1%; trầm cảm 16,35%; loạn thần cấp 10,2% và lạm dụng rượu 12,2% [8].
Theo Lã Thị Bưởi (2004), thì toan tự sát gặp ở giai đoạn trầm cảm chiếm 15,6%; lo âu 9,4%; loạn thần cấp chiếm 3,1% và nghiện ma tuý chiếm 6,2% [1].
3.1.2. Các triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân toan tự sát
Bảng 2: Các triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân toan tự sát

Triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Hoang tưởng chi phối 8 14,03
Hoang tưởng bị truy hại 13 22,81
Ảo thanh bình phẩm 11 19,29
Ảo thanh ra lệnh 7 12,28
Trầm cảm có hành vi chán sống 9 15,79
Bồn chồn bất an 2 3,51
Cảm giác mất hy vọng 3 5,26
Không rõ triệu chứng 4 7,02
Cộng 57 100
Nhận xét:
Bảng 2 thấy, triệu chứng hoang tưởng chi phối chiếm 14,08%; hoang tưởng bị truy hại 22,81%; ảo thanh bình phẩm 19,29%; ảo thanh ra lệnh 12,28%; trầm cảm có hành vi chán sống 15,79%; cảm giác bồn chồn bất an 3,51%; cảm giác mất hy vọng 5,26% và không rõ triệu chứng chiếm 7,02%.
Theo Nguyễn Hữu Chiến (2007), triệu chứng hoang tưởng gặp ở bệnh nhân có hành vi tự sát chiếm 33,33%; buồn chán thất vọng chiếm 13,33%[2].
Theo Trần Hải Yến (2008), hành vi tự sát gặp ở bệnh nhân tâm thần có hoang tưởng chiếm 85,7%; ảo giác chiếm 65,3%; trầm cảm có hành vi chán sống chiếm 19,72% và buồn chán thất vọng chiếm 6,33%[8].
Như vây, kết quả nghiên cứu của chúng tôi về triệu chứng hoang tưởng và ảo giác chiếm tỷ lệ cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Hữu Chiến, nhưng lại phù hợp với báo cáo của Trần Thị Hải Yến[2];[8].
3.1.3. Phân bố theo thời gian mắc bệnh
 Bảng 3: Phân bố theo thời gian mắc bệnh.

Thời gian mắc bệnh < 1 năm 1 – 5 năm > 5 năm
Số lượng (n) 40 12 5
Tỷ lệ (%) 70,18 21,05 8,77
Nhận xét:
Bảng 3 cho thấy, bệnh nhân toan tự sát có thời gian mắc bệnh dưới 1 năm chiếm 70,18%; nhóm có thời gian mắc bệnh 1 đến 5 năm chiếm 21,05% và nhóm mắc bệnh có thời gian trên 5 năm 8,77%, như vậy thời gian mắc bệnh càng ngắn tỷ lệ toan tự sát càng cao có thể là do yếu tố tâm lý và tính chất bệnh lý chi phối.
Theo Nguyễn Thị Kim Hanh (2004), bệnh nhân toan tự sát có thời gian mắc bệnh dưới một năm chiếm 76,14%; nhóm có thời gian mắc bệnh từ 1đến 5 năm chiếm 16,98% và từ trên 5 năm chiếm 6,88% [4]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với tác giả Ngyễn Thị kim Hanh.
3.1.4. Thời gian toan tự sát
Bảng 4:Thời gian toan tự sát

             Thời gian
Toan tự sát
Sáng
7h-11h
Trưa
12h-14h
Chiều
15h-18h
Tối
19h-6h
Không xác định
Số lần (n=73) 25 10 5 22 11
Tỷ lệ % 34,25 13,70 6,85 30,14 15,06
Nhận xét:
Bảng 4 cho thấy, toan tự sát vào buổi sáng chiếm 34,25%; trưa 13,70%; chiều  6,85%; tối 30,15% và không xác định 15,06%.
Theo Cao Tiến Đức, là toan tự sát vào buổi sáng chiếm 33,4%; trưa 13,4%; chiều  6,9%; tối 28,9% và không xác định 17,04% [3].
Theo Nguyễn Thị Kim Hanh (2004), bệnh nhân toan tự sát vào buổi sáng chiếm 43,03%; trưa 14,86%; chiều  8,98% và tối 33,13%.
Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả của các tác giả khác là bệnh nhân thực hiện toan tự sát vào buổi sáng chiếm tỷ lệ cao nhất và thấp nhất là chiều.
3.1.5. Các hình thức toan tự sát
Bảng 5: Các hình thức toan tự sát

                                                     Bệnh nhân
Hình thức toan tự sát
Số lượng (n ) Tỷ lệ (%)
Thắt cổ 18 24,66
Dùng vật sắc nhọn đâm, cắt 27 36,98
Nhảy từ trên cao xuống 9 12,33
Đuối nước 3 4,11
Điện giật 2 2,74
Dùng thuốc an thần kinh 5 6,85
Dùng thuốc trừ sau, diệt cỏ 7 9,59
Khác 2 2,74
Nhận xét:
Bảng 5 cho thấy, số lần bệnh nhân thực hiện các hình thức để toan tự sát là 73 lần; trong đó tỷ lệ toan tự sát bằng hình thức thắt cổ chiếm tỷ lệ 24,66%; dùng vật sắc nhọn đâm, cắt chiếm 36,98%; nhảy từ trên cao xuống chiếm 12,33%; đuối nước chiếm 4,11%; điện giật 2,74%; dùng thuốc an thần kinh chiếm 6,85%; dùng thuốc trừ sâu, diệt cỏ chiếm 9,59% và phương thức khác chiếm 2,74%.
Theo Cao Tiến Đức (1997), hình thức thắt cổ chiếm 30,0%; nhảy từ trên cao xuống chiếm 23,5%; dùng dao và vật sắc nhọn chiếm 17,5%; lao đầu vào ô tô chiếm 6,7%; uống thuốc độ chiếm 4% và các hình thức khác chiếm 4% [3].
Theo Lê Văn Thành (2008), hình thức toan tự sát bằng dùng thuốc độc, hoá chất chiếm 92,17%; thắt cổ chiếm 1,74%; nhảy trên cao xuống chiếm 3,48% [6].
Theo Nguyễn Thị Kim Hanh (2004), khi nghiên cứu về hành vi tự sát ở bệnh nhân tâm thần cho thấy hình thức thắt cổ chiếm 51,08%; nhảy từ trên cao xuống chiếm 16,41%; uống thuốc độc chiếm 13,31%, các hình thức khác chiếm 19,19% [4].
          Kết quả nghiên cứu của chúng tôi là toan tự sát bằng hình thức dùng dây thắt cổ là phổ biến nhất và phù hợp với các nghiên cứu trước đó.
3.1.6. Số lần bệnh nhân đã thực hiện hành vi toan tự sát
Bảng 6: Số lần bệnh nhân đã thực hiện hành vi toan tự sát

                                                     Bệnh nhân
Số lần toan tự sát/bênh nhân
Số lượng (n ) Tỷ lệ (%)
Toan tự sát 1 lần 45 78,94
Toan tự sát 2 lần 8 14,04
Toan tự sát ≥3 lần 4 7,02
Cộng 57 100
Nhận xét:
Bảng 6 cho thấy, số lần bệnh nhân đã toan tự sát 1 lần chiếm tỷ lệ 78,94%; bệnh nhân đã toan tự sát 2 lần chiếm 14,04% và bệnh nhân đã toan tự sát từ 3 lần trở lên chiếm 7,02%. Theo Cao Tiến Đức, bệnh nhân toan tự sát 1 lần chiếm 72%; toan tự sát 2 lần chiếm 15,7% và toan tự sát từ 3 lần trở lên chiếm 11,6% [3].
Theo Nguyễn Thị Kim Hanh, bệnh nhân có 1 lần toan tự sát chiếm 70,66%; toan tự sát 2 lần chiếm 8,25% và toan tự sát từ 3 lần trở lên chiếm 5,03% [4].
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các tác giả khác là bệnh nhân thực hiện toan tự sát một lần chiếm tỷ lệ cao nhất.
3.2. Một số yếu tố liên quan đến toan tự sát ở bệnh nhân vào điều trị
3.2.1.Tình hình toan tự sát theo lứa tuổi
Bảng 7: Tỷ lệ toan tự sát theo lứa tuổi.

                    Bệnh nhân
Lứa tuổi
Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
< 20 tuổi 3 5,26
20-29 tuổi 19 33,33
30-39 tuổi 14 24,56
40-49 tuổi 11 19,30
50-59 tuổi 6 10,53
≥ 60 tuổi 4 7,02
Cộng 57 100
          Nhận xét:
Quả bảng 7 thấy, toan tự sát gặp ở lứa tuổi dưới 20 chiếm tỷ lệ 5,26%; từ 20-29 tuổi chiếm 33,33%; lứa tuổi 30-39 tuổi chiếm 24,56%; lứa tuổi 40-49 tuổi chiếm 19,30%; lứa tuổi 50-59 tuổi chiếm 10,53% và từ 60 tuổi trở lên chiếm 7,02%. Toan tự sát chiếm tỷ lệ thấp nhất gặp ở nhóm dưới 20 tuổi chiếm 5,26% và cao nhất là ở nhóm 20-29 tuổi chiếm tỷ lệ 33,33%. Tỷ lệ toan tự sát theo nhóm tuổi có xu hướng giảm dần theo lứa tuổi sau 20 tuổi trở đi. Toan tự sát chiếm tỷ lệ cao ở nhóm tuổi lao động, đặc biệt là nhóm tuổi từ 20-39 tuổi chiếm tỷ lệ 57,89%.
Theo Nguyễn Thị Kim Hanh (2003), tỷ lệ tự sát gặp chủ yếu ở lứa tuổi lao động, đặc biệt là lứa tuổi 20-39 chiếm 57,48% và có xu hướng giảm dần khi tuổi càng cao [4].
Theo Nguyễn Hữu Kỳ (1996), tỷ lệ tự sát gặp chủ yếu ở lứa tuổi lao động, trong đó lứa tuổi 20-39 chiếm 53,26% và tỷ lệ toan tự sát có xu hướng giảm dần khi tuổi càng cao [5].
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp kết quả nghiên cứu của các tác giả trên là tỷ lệ toan tự sát có xu hướng giảm dần theo lứa tuổi và gặp chủ yếu ở lứa tuổi lao động.

Biểu đồ 1: Toan tự sát phân theo lứa tuổi và giới tính
3.2.2.Tình trạng hôn nhân của bệnh nhân toan tự sát.
Bảng 8: Tình trạng hôn nhân của bệnh nhân toan tự sát

Tình trạng hôn nhân Độc thân Kết hôn Goá Ly dị
Số lượng (n) 10 40 3 4
Tỷ lệ (%) 17,54 70,17 5,26 7,02
Nhận xét:
Bảng 8 cho thấy, bệnh nhân sống độc thân chiếm tỷ lệ 17,54%, bệnh nhân kết hôn 70,17%; goá chiếm 5,26% và ly dị chiếm 7,02%. Phải chăng sự bất hạnh trong cuộc sống và thất bại trong hôn nhân cũng là yếu tố nguy cơ thúc đẩy bệnh nhân tâm thần thực hiện hành vi toan tự sát.
Theo Lê Văn Thành (2008), người sống độc thân toan tự sát chiếm 48,69%;  người đã kết hôn chiếm 38,36%; goá chiếm 6,09% và ly hôn chiếm 6,86% [6].
Theo Nguyễn Thị Kim Hanh và cộng sự (2003), tỷ lệ bệnh nhân sống độc thân chiếm 15,60%; bệnh nhân kết hôn 72,47%; goá 4,58% và ly dị 7,35% [4]
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác và có cùng nhận định là yếu tố hôn nhân có ảnh hưởng đến toan tự sát.
3.2.3. Tỷ lệ bệnh nhân có stress tâm lý thúc đẩy toan tự sát
Bảng 9: Các stres tâm lý

Các stress tâm lý Số lượng (n) Tỷ lệ %
Không nhận thấy stress tâm lý 40 70,18
Có stress tâm lý 17 29,82
Cộng 57 100
Nhận xét:
Bảng 9 cho thấy, bệnh nhân có sang chấn tâm lý liên quan đến toan tự sát gặp ở 29,82%  và không có sang chấn tâm lý chiếm 70,18%.
Theo Nguyễn Văn Tuân  (2008), toan tự sát có sang chấn tâm lý chiếm 30% số bệnh nhân được nghiên cứu [8]. Kết quả của chúng tôi phù hợp với các tác giả khác là yếu tố tâm lý gặp ở bệnh nhân toan tự sát chiếm tỷ lệ cao.
3.2.4. Sang chấn tâm lý thường gặp ở bệnh nhân toan tự sát
Bảng 10: Sang chấn tâm lý thường gặp ở bệnh nhân toan tự sát

Sang chấn tâm lý Số lượng (n) Tỷ lệ %
Mâu thuẫn xung đột với người thân 12 70,59
Mâu thuẫn ngoài xã hội 2 11,76
Thất bại trong cuộc sống 2 11,76
Khác 1 5,89
Cộng 17 100
Nhận xét:
Bảng 10 cho thấy, bệnh nhân có sang chấn tâm lý chủ yếu là các mâu thuẫn xung đột với người thân trong gia đình chiếm 70,59%; mâu thuẫn ngoài xã hội chiếm 11,76%; do thất bại trong cuộc sống như buôn bán, kinh doanh làm ăn thua lỗ chiếm 11,76%  và các sang chấn tâm lý khác chiếm 5,89%
Theo Lê Văn Thành (2008), sang chấn tâm lý do mâu thuẫn xung đột gia đình 81,74%; xung đột ngoài xã hội 4,35% và các sang chấn khác 13,91% [6]. Như vậy, sang chấn tâm lý đóng vai trò quan trọng trong toan tự sát ở người bệnh.
3.2.5. Nghề nghiệp của bệnh nhân rối loạn loạn thần cấp và nhất thời
Bảng 11: Nghề nghiệp của bệnh nhân

Nghề nghiệp Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Học sinh- sinh viên 2 3,51
Công nhân viên chức 9 15,79
Nông dân 34 59,65
Lao động tự do 7 12,28
Kinh doanh-buôn bán 3 5,26
Khác 2 3,51
Cộng 57 100
Nhận xét:
Bảng 11 cho thấy, bệnh nhân toan tự sát là học sinh-sinh viên chiếm 3,51%; công nhân viên chức 15,79%; nông dân 59,65%; lao động tự do 12,28%; kinh doanh buôn bán 5,26% và nghề nghiệp khác chiếm 3,51%.
IV. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến toan tự sát ở 57 bệnh nhân điều trị tại bệnh viện tâm thần Thanh Hoá năm 2013, gồm 22 nữ và 35 nam, từ 18 đến 63 tuổi, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
1- Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân toan tự sát điều trị tại bệnh viện.
Bệnh nhân tâm thần phân liệt toan tự sát chiếm tỷ lệ cao nhất 40,35% và thấp nhất là bệnh nhân nghiện rượu, ma tuý toan tự sát cùng chiếm tỷ lệ 1,75%.
Triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân toan tự sát là hoang tưởng chi phối chiếm 14,08%; hoang tưởng bị truy hại 22,81%; ảo thanh bình phẩm 19,29%; ảo thanh ra lệnh 12,28%; trầm cảm có hành vi chán sống 15,79%; cảm giác bồn chồn bất an 3,51%; cảm giác mất hy vọng 5,26% và không rõ triệu chứng chiếm 7,02%.
Toan tự sát có thời gian mắc bệnh dưới 1 năm chiếm 70,18%; mắc bệnh 1 đến 5 năm 21,05% và mắc bệnh trên 5 năm 8,77%.
Toan tự sát vào buổi sáng chiếm 34,25%; trưa 13,70%; chiều  6,85%; tối 30,15% và không xác định 15,06%.
Toan tự sát bằng hình thức thắt cổ chiếm tỷ lệ 24,66%; dùng vật sắc nhọn đâm, cắt chiếm 36,98%; nhảy từ trên cao xuống chiếm 12,33%; đuối nước chiếm 4,11%; điện giật 2,74%; dùng thuốc an thần kinh chiếm 6,85%; dùng thuốc trừ sâu, diệt cỏ chiếm 9,59% và phương thức khác chiếm 2,74%.
Bệnh nhân toan tự sát 1 lần 78,94%; 2 lần 14,04% và 3 lần trở lên 7,02%.
2. Một số yếu tố liên quan đến toan tự sát ở bệnh nhân vào điều trị
Toan tự sát chiếm tỷ lệ thấp nhất nhóm dưới 20 tuổi chiếm 5,26% và cao nhất ở nhóm 20-29 tuổi 33,33%. Tỷ lệ toan tự sát theo nhóm tuổi có xu hướng giảm dần theo lứa tuổi sau 20 tuổi trở đi.
Bệnh nhân toan tự sát sống độc thân 17,54%, kết hôn 70,17%; goá chiếm 5,26% và ly dị chiếm 7,02%.
Bệnh nhân toan tự sát có sang chấn tâm lý chiếm 29,82%; trong đó, xung đột với người thân trong gia đình 70,59% và mâu thuẫn ngoài xã hội  11,76%.
Toan tự sát là học sinh-sinh viên 3,51%; công nhân viên chức 15,79%; nông dân 59,65%; lao động tự do 12,28%; kinh doanh buôn bán 5,26% và nghề nghiệp khác chiếm 3,51%.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
1. Lã Thị Bưởi và Cộng sự (2004)
Nhận xét một số nhân tố nguy cơ toan tự sát ở thanh thiếu niên. Thông tin chuyên ngành -Bệnh viện Tâm thần trung ương II, số 41; Trang: 33-37.
2. Nguyễn Hữu Chiến (2007)
Nhận xét tình hình tử vong do tự sát tại bệnh viện tâm thần trung ương I từ năm 1983 đến 2002. Nội san - Bệnh viện Tâm thần Trung ương I; Trang: 14-19
3. Cao Tiến Đức (1997)
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tự sát của bệnh nhân tâm thần
Nội san Tâm thần -Bệnh viện Tâm thần Trung ương I; Số 1; Trang: 28-30.
4. Nguyễn Thị Kim Hanh (2004)
Nghiên cứu một số đặc điểm tự sát ở bệnh nhân tâm thần điều trị tại bệnh viện tâm thần Thanh Hoá trong 10 năm (năm 1994 đến 2003). Hội thảo Pháp Việt về tâm thần tại Huế.
5. Nguyễn Hữu Kỳ (1996)
Nghiên cứu các nhân tố ngoại lai, tâm lý và tâm thần ở người toan tự sát.
Luận án Phó tiến sỹ Y dược-Đại học Y khoa Hà Nội.
6. Lê Văn Thành (2008)
Nghiên cứu tình hình toan tự sát của 115 bệnh nhân nhập viện điều trị cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa và Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thanh Hoá.
Luận án chuyên khoa cấp II;  Đại học Y Huế.
7. Nguyễn Văn Tuân (2008)
Nhận xét các yếu tố stress trong toan tự sát ở thanh thiếu niên
Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học choà mứng 45 năm thành lập bệnh viện Tâm thần Trung ương I; Trang: 160-165.
8. Trần Hải Yến, Nguyễn Thanh Bình (2008)
Nhận xét đặc điểm lâm sàng hành vi tự sát ở bệnh nhân có loạn thần điều trị tại bệnh viện tâm thần tỉnh Thái Bình
Tạp chí Y học thực hành, số 630;Trang: 44
9. Sadock B.J., Sadock V.A. (2007),
Title: Kaplan & Sadock's Synopsis of Psychiatry: Behavioral Sciences/Clinical Psychiatry, 10th Edition. Williams & Wilkins. Pag 553-587.
Tác giả bài viết: Trịnh Văn Anh
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 8 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
   

© Copyright Bệnh viện Tâm thần Thanh Hóa
Địa chỉ: 217 Hải Thượng Lãn Ông - TP.Thanh Hóa
Điện thoại: 037.3954430