Xem nhiều trong tháng

Thăm dò ý kiến

Bạn có hay bị căng thẳng

Tôi rất thoải mái

Ít khi căng thẳng

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Liên kết website

http://giadinh.net.vn/
tạp chí y dược
tiếng chuông
http://ytethanhhoa.gov.vn/
Cải cách thủ tục hành chính
truyền hình sức khoẻ
truyền thông sức khoẻ
bác sĩ nội trú
thủ tục hành chính
http://suckhoedoisong.vn/
y học thực hành

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÀNH VI TỰ SÁT Ở BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT

Đăng lúc: Thứ năm - 22/03/2018 08:41 - Người đăng bài viết: anhanh
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÀNH VI TỰ SÁT Ở BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT Trịnh Văn Anh*, Bùi Quang Huy**
Tóm tắt
Mục tiêu:đặc điểm hành vi tự sát ở bệnh nhân tâm thần phân liệt. Đối tượng: 66 bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát. Phương pháp: tiến cứu, cắt ngang phân tích từng trường hợp cụ thể. Kết quả: phương thức tự sát gặp phổ biến nhất là dùng vật sắc, nhọn chiếm tỷ lệ 31,38%. Hầu hết bệnh nhân thực hiện hành vi tự sát ban ngày (73,12%). Hoang tưởng bị truy hại chiếm 72,73%. Ảo thanh bình phẩm chiếm 51,52%. Cảm xúc không thích hợp chiếm 50%. Kết luận: phương thức tự sát rất đa dạng, các triệu chứng hoang tưởng bị truy hại và ảo thanh bình phẩm là phổ biến ở bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát.
          Từ khóa: Tâm thần phân liệt, hành vi tự sát.
          Summary
Objective: Characteristics of suicidal behaviors in patients with schizophrenia. Subjects: 66 schizophrenic patients with suicidal behavior. Methods: prospective, cross-sectional analysis of each particular case. Results: The suicide method is used most commonly encountered sharp objects, sharp percentage 31.38%. Most patients perform acts of suicide the day (73.12%). Delusions of persecution 72.73%.Auditory hallucinations arevoices commenting51.52%. Emotions are not suitable for 50%. Conclusion: Suicide methods diversity, the delusions of persecution and auditory hallucinations are voices commenting, are common in schizophrenic patients who have suicidal behaviors.
Keywords: Schizophrenia, suicidal behaviors.
1.ĐẶT VẤN ĐỀ
Tự sát là một cấp cứu tâm thần, gặp rất phổ biến trong bệnh tâm thần phân liệt, theo Kaplan H. I. (1994), khoảng 20% đến 50% số bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát trong cuộc đời và 15% bệnh nhân này sẽ chết vì tự sát. Tự sát ở bệnh nhân tâm thần phân liệt cao gấp 20 lần so với tỷ lệ chung của cộng đồng và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân tâm thần phân liệt.
Theo tác giả Stephen M. S. (2009), nguyên nhân tự sát trong tâm thần phân liệt là do trầm cảm, do ảo thanh, hoang tưởng, do rối loạn hành vi và không rõ nguyên nhân.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm hành vi tự sát ở bệnh nhân tâm thần phân liệt nhằm mục đích góp phần làm rõ “Đặc điểm hành vi tự sát ở bệnh nhân tâm thần phân liệt”.
  1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu gồm 66 bệnh nhân tâm thần phân liệt (50 nam và 16 nữ) được chẩn đoán là theo tiêu chuẩn của ICD-10 (1992) và đã có hành vi tự sát. Các bệnh nhân này được điều trị nội trú tại khoa Tâm thần-Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Tâm thần Thanh Hóa từ tháng 1/2011 đến tháng 2/2016.
Nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang phân tích từng trường hợp cụ thể.
Xử lý số liệu bằng chương trình STATA 8.2.
  1. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Bảng 1: Thời gian mắc bệnh của bệnh nhân
                       Chỉ số thống kê
Lứa tuổi
Số lượng (n) Tỷ lệ (%) p
1 -2 năm 38 57,58 p < 0,001
3 -4 năm 12 18,18
5 – 6 năm 6 9,09
>6 năm 10 15,15
Cộng 66 100,00
Trung bình ( ±SD)  = 3,56 ± 3,09 năm
Bảng 1 cho thấy quá nửa số bệnh nhân (57,58%) có thời gian mắc bệnh từ 1 đến 2 năm và thời gian mang bệnh trung bình ( ±SD)  = 3,56 ± 3,09 năm. Kết quả này phù hợp với ý kiến của Kaplan H. I. (1994) khi cho rằng đa số các bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại bệnh viện có thời gian mang bệnh 1-2 năm.
Bảng 2: Số lần tự sát ở bệnh nhân
                       Chỉ số thống kê
Số lần tự sát
Số lượng (n=66) Tỷ lệ (%) p
1 lần 48 72,73 p < 0,01
2 lần 12 18,18
3 lần 4 6,06
4 lần 1 1,52
5 lần 1 1,52
Bảng 2 cho thấy đa số bệnh nhân mới chỉ có 1 lần tự sát với 72,73%. Số bệnh nhân có 2 lần tự sát chiếm tỷ lệ nhỏ với 18,18%. Kết quả này phù hợp với ý kiến của Sadock B. J. (2015) khi cho rằng đa số bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát điều trị tại các bệnh khoa tâm thần mới chỉ có 1 lần tự sát.
Bảng 3: Phương thức tự sát ở bệnh nhân nghiên cứu
                       Chỉ số thống kê
Phương thức tự sát
Số lượng
(n =93)
Tỷ lệ (%) p
Bằng đuối nước 13 13,98 p < 0,001
Bằng thắt cổ 13 13,98
Đập đầu vào tường 9 5,38
Lao vào ô tô 4 4,30
Dùng vật sắc, nhọn đâm, chém, cắt 29 31,18
Dùng gậy, búa, gạch, đá đập 2 2,15
Bằng thuốc bảo vệ thực vật, diệt chuột 8 8,60
Bằng thuốc hướng thần, tân dược 2 2,15
     
Bằng cắn lưỡi tự sát 1 1,08  
Nhảy từ trên cao xuống 9 9,68  
Bằng điện giật 1 1,08  
Hình thức khác 2 2,15  
Tổng cộng 93 100,0  
Bảng 3 cho thấy phương thức tự sát của bệnh nhân tâm thần phân liệt rất đa dạng, phong phú, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là bệnh nhân dùng vật sắc, nhọn như dao, kéo đâm, chém, cắt với tỷ lệ 31,18%. Kết quả này phù hợp với DSM 5 (2013) khi cho rằng phương thực tự sát của bệnh nhân tâm thần phân liệt rất đa dạng, phong phú, nhưng phổ biến nhất vẫn là các phương pháp bạo lực như đâm chém, bắn, thắt cổ…
Bảng 4: Thời gianthực hiện hành vi tự sát
                       Chỉ số thống kê
Thời gianthực hiện
Số lượng
(n=93)
Tỷ lệ (%) p
Ban ngày 68 73,12 P<0,001
Ban đêm 25 26,88
Tổng cộng 93 100  
Bảng 4 cho thấy đa số bệnh nhân thực hiện hành vi tự sát vào ban ngày (73,12%). Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Huy (2010) khi cho rằng 70,25% số bệnh nhân thực hiện hành vi tự sát ban ngày, khi mọi người trong gia đình đã đi vắng, không còn ai để ý đến bệnh nhân.
Bảng 5: Triệu chứng hoang tưởng ở bệnh nhân nghiên cứu
                       Chỉ số thống kê
RL hoang tưởng
n=66 Tỷ lệ % p
Hoang tưởng liên hệ 4 6,06 p < 0,001
Hoang tưởng bị truy hại 48 72,73
Hoang tưởng bị chi phối 16 24,24
Hoang tưởng ghen tuông 1 1,52
Hoang tưởng tự buộc tội 3 4,55
Hoang tưởng nhận nhầm 1 1,52
Hoang tưởng kỳ quái 4 6,06
Bảng 5 cho thấy một bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều hoang tưởng, trong đó hoang tưởng bị truy hại là phổ biến nhất, chiếm 72,73%, tiếp theo là hoang tưởng bị chi phối với 24,24%. Kết quả này phù hợp với Sadock B. J. (2015) khi cho rằng hoang tưởng bị hại và bị chi phối gặp ở hầu hết bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát.
Bảng 6: Triệu chứng ảo giác ở bệnh nhân nghiên cứu
                       Chỉ số thống kê
RL hoang tưởng
n=66 Tỷ lệ % p
Ảo thị giác 1 1,52 p < 0,01
Ảo thanh bình phẩm 34 51,52
Ảo thanh đe dọa 14 21,21
Ảo thanh ra lệnh 29 43,94
Ảo thanh xui khiến 20 30,30
Bảng 6 cho thấy một bệnh nhân có thể có 1 hay nhiều ảo giác, trong đó phổ biến nhất là ảo thanh bình phẩm (51,52%) và ảo thanh ra lệnh (43,94%). Kết quả này phù hợp với Gelder G. M. (2011) khi cho rằng ảo giác hay gặp nhất ở bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát là ảo thanh ra lệnh và ảo thanh bình phẩm xấu về bệnh nhân.
Bảng 7: Triệu chứng rối loạn cảm xúc và lo âu ở bệnh nhân nghiên cứu
                       Chỉ số thống kê
Rối loạn cảm xúc-lo âu
n=66 Tỷ lệ % p
Giảm khí sắc 22 33,33 p < 0,001
Cảm xúc bàng quan 23 34,85
Luôn lo lắng quá mức 16 24,24
Hoang mang 9 13,64
Cảm xúc không thích hợp 33 50,0
Cảm xúc bùng nổ 8 12,12
Cảm xúc không ổn định 23 34,85
Bi quan, chán nản 30 45,45
Bảng 7 cho thấy cảm xúc không thích hợp gặp ở 50% số bệnh nhân, bi quan chán nản chiếm 45,45%, cảm xúc không ổn định gặp ở 34,85% và có 24,24% số bệnh nhân lo lắng quá mức. Kết quả này phù hợp với Lê Ngọc Hà (2014) khi cho rằng 59,05% số bệnh nhân có cảm xúc không thích hợp, 24,14% có lo lắng quá mức.
4.KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 66 bệnh nhân được chẩn đoán là tâm thần phân liệt có hành vi tự sát, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Nhóm bệnh nhân có thời gian mang bệnh từ 1-2 năm có hành vi tự sát là cao nhất chiếm 57,58%. Bệnh nhân có 1 lần chiếm tỷ lệ 72,73%, hình thức tự sát gặp phổ biến nhất là dùng vật sắc, nhọn để đâm, chém, cắt chiếm tỷ lệ 31,38%. Hầu hết bệnh nhân thực hiện hành vi tự sát ban ngày (73,12%).
- Hoang tưởng hay gặp nhất là hoang tưởng bị truy hại, chiếm 72,73%. Ảo giác hay gặp nhất là ảo thanh bình phẩm chiếm 51,52%, sau đó đến ảo thanh ra lệnh với 43,94%. Cảm xúc không thích hợp chiếm 50%; tâm trạng bi quan, chán nản chiếm 45,45%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Ngọc Hà (2014). Nghiên cứu kết quả điều trị bệnh tâm thần phân liệt bằng sốc điện gây mê kết hợp với thuốc an thần kinh. Luận văn thạc sỹ y học. Hà Nội.
2. Bùi Quang Huy (2010). Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và lâm sàng hành vi tự sát ở bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Tâm thần, Bệnh viện 103. Tạp chí y dược học quân sự.Số 9.
3. Association American Psychiatric (2013). Diagnostic and statistical manual of mental disorder 5th edition. Washington DC. Pag.325-341.
4. Kaplan H. I., Sadock B. J., Grebb J. A., (1994). Synopsis of psychiatry.Seventh edition.Williams and Wilkins. Pag 639-654.
5. Sadock B. J., Sadock V. A., Ruiz P. (2015).Kaplan and Sadock.Synopsis of psychiatry.Eleventh edition.Williams and Wilkins. Pag 287-307.
 
Bùi Quang Huy**: Khoa Tâm thần, Bệnh viện Quân y 103.
Trịnh Văn Anh*: Bệnh viện Tâm thần Thanh Hóa
 
Tác giả bài viết: Trịnh Văn Anh và Bùi Quang Huy
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
   

© Copyright Bệnh viện Tâm thần Thanh Hóa
Địa chỉ: 217 Hải Thượng Lãn Ông - TP.Thanh Hóa
Điện thoại: 037.3954430